12 chính kinh

                            12 chính kinh :

1, Thủ thái âm phế kinh : gồm 11 huyệt

 bên trong thuộc phổi có quan hệ biểu lý với Đại tràng kinh này nhiều khí ít huyết khi mạch khí có biến động sẽ có biểu hiện như : Ho,hơi bị đẩy ngược lên, hen,thở gấp và các bệnh liên quan đến phổi những chỗ kinh mạch đi qua có cảm giác khó chịu.

- Nếu tà khí mạnh xâm nhập  gây nên phế khí thực vai lưng sung tấy. Nếu ngoại cảm phong hàn xâm nhập  chảy nước mũi vã mồ hôi, da co lại lúc hàn lúc nhiệt không ra được mồ hôi khi tà truyền xuống thận thì bị đái dắt long bàn tay nóng

- Nếu kinh kính khí yếu gây ra chứng hư thì vai lưng đau ê ẩm sợ rét, nhịp hô hấp ngắn. Phế khí hư con không tiếp nhận được khí của mẹ dẫn đến thận thủy cạn kiệt ( Kim không sinh thủy) do đó bị khát tâm phiền dẫn đến bang quang hư nhược tích uất nơc tiểu vàng hoặc ngả sang màu đỏ

2 Thủ dương minh đại trường kinh : gồm 20 huyệt

Bên trong thuộc ruột già bên ngoài bắt đầu từ huyệt thương dương kết thúc ở huyệt  nghinh hương. Nếu ngoại cảm nội thương tác động mạnh vào mạch khí của kinh này mạch khí bị nghẽn làm môi dưới sưng đau,cổ sưng to Đại trường với phế có quan hệ biểu lý , phế chủ khí tân dịch (nước bọt ) đó là kết quả quá trình hóa sinh, do đó khi đại trường bị ứ nhiệt sẽ làm tân dịch nội thương do đó những nơi kinh mạch đi qua có cảm giác nặng nề, mắt vàng miệng khô, họng sưng tấy mũi chảy nước hoặc xuất huyết …v…v…kinh này khí nhiều huyết ít

3, Túc dương minh vị kinh  gồm: 45 huyệt

Bên trong thuộc dạ dày  bên ngoài bắt đầu từ huyệt thừa khấp kết thúc ở huyệt lệ đoài ngón chân sát ngón cái .Nếu ngoại cảm nội thương tác động kinh mạch này làm dương khí hư, dương không thắng nổi âm thì có những biểu hiện sợ rét, rét run, vị thuộc thổ hư thì thủy lấn át tác dụng của thận thịnh có lúc rên rỉ sắc mặt sạm đen. Nếu dương khí dư dật thì sợ người, sợ nước bởi vì mộc khắc thổ hễ nghe tiếng cưa gỗ tim đập sợ hãi. Dơng cạn kiệt sẽ chuyển sang âm – âm chủ về tĩnh nên người dương hư chỉ ưa ở một mình trong nhà yên tĩnh , nếu dương nhiệt quá thịnh có thể cởi bỏ quần áo mà đi đứng lên cao hát ngêu ngao như người điên,khi vị khí ngược thì ruột bụng chướng đầy. Vị là bể của thủy cốc , Dạ dày chủ việc sinh dinh dưỡng và huyết, một khi có bệnh về dịch vị thì không sinh được dinh  dưỡng và huyết do đó mắc bệnh thiếu máu . Nếu ôn khí trào lên thì vã mồ hôi vì kinh này vòng qua mũi, qua môi răng luồn  vào họng xuống  ngực bụng nên còn gây chảy máu mũi hoặc ngạt mũi vã mồ hôi. Các chứng như méo mồn lệch mắt mồm miệng khô nẻ, quai hàm sưng đau, sưng họng đều liên quan đén kinh này. Vị ở trung tiêu thuộc thổ thổ không chế được thủy gây ra thủy thấp là điều bất lợi. Một khi thủy tháp thấm đầy cá kinh lạc , xâm nhập vào tạng phủ sẽ bành chướng thành chứng phù thũng hễ ấn vào những chỗ kinh mạch đi qua đều cảm thấy đau, Chứng thực là do dương khí quá thịnh hễ ấn vào những chỗ kinh mạch đi qua có cảm giác nóng ran, vị khí thịnh khả năng tiêu hóa mạnh có biểu hiện đói cồn cào, nếu âm khí thịnh vùng bụng lạnh và chướng lên, rét run, kinh này nhiều khí nhiều huyết 

4, Túc thái âm Tỳ kinh : gồm 23 huyệt

 Bên trong thuộc lá lách liên lạc với dạ dày, tim và cuống lưỡi trong ngũ tạng Tỳ ứng với trung ương của mậu, kỷ, thuộc hành thổ kinh này thnhj vượng vào giờ tỵ.  phần ngoài bắt đầu từ ngón chân cái ở huyệt ẩn bạch đi lên men theo mép trong cẳng chânđi chéch về phía trước đùi lên bụng , nực kết thúc ở huyệt đại bao. Khi tỳ khí mắc bệnh sẽ mất khả năng chuyển hóa chất dinh dưỡng do đó tiêu hoá sẽ khó khăn, ăn vào lại nôn ra bụng  chướng lên thường thấy đau ở vùng dạ dày , ợ hơi, hơi đẩy ngợc lên, sau khi đại tiện hoặc trung tiện thấy dễ chịu ngay, nếu tà khí xâm nhập vào phần máu thì cuống lưỡi đau, thân thể khó cử động, nuốt không trôi, tâm phiền đau, đi ngoài phân lỏng, hoặc kiết lỵ, bí đái bí mồ hôi, vàng da nung ủ uất khí, ăn không tiêu Tỳ vị bất hòa thì đứng ngồi không yên,đầu gối phù nề ngón cái liệt nếu trầm trọng hơn thì không thiết gì ăn uống. Tâm thuộc hỏa Tỳ thuộc hành thổ nên Tâm là mẹ của tỳ con ốm mẹ lo, nên Tỳ bị bệnh tâm phiền muội đau

Tỳ kinh bắt đầu từ ngón chân cái nên khi Tỳ mắc bệnh ngón chân cái đau nhâm nhẩm,cử động không linh hoạt

Tỳ đảm nhiệm chất tinh vi nuôi dưỡng cơ nhục tý chi bách hài cho nên tỳ bị tổn thương thì miệng không phân biệt được mùi vị tứ chi mỏi rã rời người nôn nao, ỉa chảy..v...v...nếu không đói mà cố ăn sẽ làm thương tổn Tỳ ,ăn quá no sẽ làm tắc mạch khí. Ăn thức ăn bẩn ôi thiu sẽ làm thần khí hôn mê sinh nhiều bệnh khác

5, Thủ thiếu âm Tâm kinh gồm 9 huyệt

Kinh này bên trong thuộc về tâm đi ra hốc nách ở huyệt cực tuyền xuống bên trong cánh tay cẳng tay kết thúc ở huyệt thiếu xung góc móng ngón tay út. Kinh này nhiều huyết ít khí thịnh vượng nhất vào giờ ngọ. Khi kinh này có biến động khô họng,sưng họng, khát nước, đau tim, ngất lim, mắt vàng, đau thần kinh liên sườn lòng bàn tay nóng ran cánh tay đau

Nếu tâm bị thương tổn thần theo đó bị mất đi, Thần mất tất phải chết

6, Thủ thái dương tiểu trường kinh gồm 19 huyệt

Kinh này bên trong thuộc ruột non bên ngoài nối tiếp mạch Tâm kinh khởi đầu từ huyệt thiếu trạch góc ngoài móng ngón tay út, đi lên phía ngoài cánh tay lên vai, cổ kết thúc ở huyệt thính cun trước tai. kinh này nhiều huyết ít khí thịnh nhất vào giờ Mùi

Tiểu trường có tác dụng tiêu hóa những thứ tinh vi của thức ăn, Phân loại ra cái thanh cái đục. Nếu bị tà khí xâm nhập làm kinh mạch ứ tắc thì những chỗ kinh mạch đi qua sẽ có phản ứng như đau họng, sưng hàm, cứng đơ vùng cổ, vai lưng như bị ai kéo lên cánh tay có cảm giác như sắp gãy

Bệnh ở tiểu trường kinh có phân biệt ra : hàn nhiệt, hư, thực .

 Nếu hàn tà ẩn nấp ở trong có hiện tượng sôi bụng , vùng rốn lạnh đau, ỉa lỏng nước tiểu trong, gai lưỡi trắng mạch chậm, thường mắc chứng viêm ruột mãn tính, rối loạn chức năng tiêu hóa của ruột đau ở ruột non, đau bụng dưới, ấn vào thấy dễ chịu chướng bụng , đau từ bụng lan sang thắt lưng, hông và tinh hoàn, đi lại khó khăn, vùng bụng dưới có u mềm nổi lên ,ỉa chảy kéo dài, sa trực tràng , chân tay lạnh mệt mỏi, uể oải, gai lưỡi trắng

Chứng thấp nhiệt ở tiểu trường : sốt ỉa lỏng phân có mùi thối khắm nồng, hoặc có lẫn máu và chất nhầy màu trắng, hậu môn nóng thường gặp khi mắc bệnh Ly trực khuẩn, lỵ amit viêm ruột cấp tính và thương hàn..v..v...

Chứng nhiệt ứ đọng : Đau vùng rốn, đau bên phải bụng dưới hễ ấn vào càng đau, táo bón , viêm ruột thừa cấp tính, hoặc các bệnh viêm ruột cấp tính khác, phát sốt, gai lưỡi vàng

Thái dương nghĩa là : Dương khí thịnh vượng , kinh này đi ở phần biểu của cơ thể nên khi ngoại cảm, tà khí tấn công nó là kinh phát hiện bệnh sớm, sách hoàng đế tố vấn viết : ( thái dương vi khai )

 7, Túc thái dương bàng quang kinh gồm : 67 huyệt

Bên trong thuộc bàng quang bên ngoài nối tiếp mạch thủ thái dương tiểu trường khởi đầu từ huyệt tình minh góc trong khóe mắt lên đầu xuống dọc hai bên xương sống xuống chân kết thúc ở huyệt chí âm góc ngoài móng ngón chân út, kinh này chủ đạo về khí cho các dương kinh, kinh này nhiều huyết ít khí thịnh  vượng nhất vào giờ thân

Dương khí có tác dụng nuôi dưỡng làm mền gân nên nó chủ các bệnh như : sa trực tràng, bệnh trĩ..v...v...Khi ngoại tà xâm phạm kinh mạch thì việc lưu thông khí bị cản trở lúc đó khí bị xốc ngược lên làm đau đầu, con ngươi như sắp bị lồi ra, cô, lưng, cột sống như bị rằng kéo, như bị dần đau, chân không co duỗi được ,vùng đầu gối như bị thừng trói chặt, rất khó cử động bụng chan đau như bị dao rạch

Công năng của Bàng quang là chứa nước tiểu bài tiết nước tiểu ,và khí hóa thủy dịch, nó có quan hệ biểu lý với thận nên khi có bệnh là tác động đến thận ngay, công năng của bàng quang là khí hóa nên khi có bệnh lượng nước tiểu và số lần đi tiểu sẽ thay đổi

Chứng bàng quang hư : Nước tiểu trong veo, hoặc đùng đục dần có cặn đái dầm, nặng thì đái nhỏ giọt khó đái, hệ thống tiết niệu mắc bệnh mãn tính,

Thấp nhiệt niệu đạo đau, đi tiểu nhiều lần nhưng khó bài tiết bệnh nặng thì không đái được căng đau, nước tiểu vàng sẫm, có sỏi, hoặc lẫn máu lưỡi vàng nhầy

8, Túc thiếu âm Thận kinh gồm 27 huyệt 

Bên trong thuộc thận bên ngoài nối tiếp mạch thái dương bàng khởi đầu từ huyệt Dũng tuyền dưới gan bàn chân đi lên vòng quanh mắt cá trong lên đùi lên thận dọc theo đường chính giữa bụng kết túc ở huyệt du phurkinh mạch này nhiều huyết ít khí vận hành mạnh nhất vào giờ dậu, Khi mạch khí có biến động thận hỏa bốc lên bụng cảm giác đói , đói mà không muốn ăn, hỏa thịnh lấn thủy làm tổn hại đến mạch lạc của phế gây ra ho có thể sinh ra thổ huyết

Âm, Dương của thận là căn bản Âm, dương của phủ tạng , nó duy trì động lực , là cơ sở vật chất đảm bảo công năng hoạt động chính thường cho cac tạng phủ. Khi có biểu hiện bệnh là giai đoạn bệnh đã nặng

Thận chủ cốt sinh tủy, dưỡng não. Thận hư cốt giòn kém chịu lực  tủy và não đều thiếu động tác chậm chạm đù đờ, ở trẻ em xương mềm, ở người lớn vung eo đau ê ẩm, choáng váng trí nhớ giảm nhanh

Thận dương hư :sắc mặt nhợt nhạt sợ rét xuongw sống vùng eo đau ê ẩm ớn lạnh, chân bủn rủn liệt dương di tinh, hoạt tinh, nước đái đục, phân lỏng, nước tiểu trong dài.đái vãi, đái nhiều lần, lượng nước đái ít khó đái cơ năng tuyến thượng thận giảm sút, viêm đường tiết niệu mãn tính thần kinh suy nhược, nấc suyễn,đờm trong và nhiều đờm sủi bọt tim hồi hộp, đái đường và nhiều bệnh mãn tính khác

Thận Âm hư : có biểu hiện vẻ mặt tiều tụy, gày còm, chóng mặt hoa mắt, ù tai, trí nhớ kém, mỏi lưng, mỏi chân, trẻ em còi xương, ở man giới ít tinh, ở phụ nữ thì bế kinh hoặc mất kinh.hơi ấm đầu, hư phiền gò má đỏ, mồ hôi trộm , ngủ không yên giấc, miệng khô mồm đắng,eo lưng mỏi ngủ mê đái dầm đái ra máu, viêm thận mãn tính. Bệnh lao, bệnh đái đường, đái tháo, nước đái vàng nâu lưỡi vàng ngả sang đỏ mắc bệnh suy nhược thần kinh, huyết áp cao, viêm cầu thận vô sinh..v...v.

8, Thủ quyết âm tâm bào kinh : gồm 9 huyệt

Bên trong thuốc bào lạc ( niêm mạc bảo vệ tim )  bên ngoài nối tiếp mạch Thận ở huyệt thiên trì cạnh ngực ra cánh tay di giữa cánh tay kết thúc huyệt trung xung góc móng ngón tay giữa, kinh này nhiều huyết ít khí thịnh vượng nhất vào giờ tuất, khi mạch khí biến động lòng bàn tay nóng ran, cánh tay cùi trỏ co giật. Sưng dưới nách, ngực đầy chướng, trong lòng hồi hộp Tâm bào là tướng hỏa – hỏa mà quá thịnh mặt đỏ gay gắt, cười như điên dại mắt vàng , tâm phiền muội, chủ các bệnh về tâm

10 Thủ thiếu dưng tam tiêu kinh gòm 23 huyệt

Kinh này nối tiếp kinh tâm bào ở huyệt quan xung ở góc móng ngón tay đeo nhẫn đi dọc ngoài cánh tay lên cỏ sau tai vòng về tươc mặt kết thúc ở huyệt ty trúc không đuôi lông mày  kinh này ít huyết nhiều khí thịnh vượng nhất vào giờ hợi khi mạch khí có biến đọng thì tai điếc không nghe rõ hỏa thịnh họng sưng đau, sinh khí không đủ vã mồ hội, khóe mắt ngoài đau má sưng đỏ, vai cánh tay đau nặng ngón đeo nhẫn liệt ( xem phần tam tiêu ở y lý y học cổ truyền )

11, Túc thiếu dương đởm kinh gồm 44 huyệt

Túc thiếu dương đởm kinh bên trong thuộc mật có quan hệ biểu lý với can kinh này ít huyết nhiều khí vượng nhất vào giờ tý nửa đêm, bên ngoài nối tiếp mach tam tiêu khởi đầu từ huyệt đồng te liêu cuối đuôi mắt

Nếu mạch khí có biến động khí xông ngược lên làm khí ứ ở túi mật, tân dịch không tiết ra được miệng đắng, nếu không giải trừ được đởm khí thì u uất khó bài trừ, tim ngực đau, thân thể khó bề chuyển động. Nếu đởm khí bị dồn ứ thì mặt như bị bụi phủ, sắc da mai mái bàn chân phát nhiệt . nếu hỏa khí xông ngược lên là chứng quyết dương , vì vị đắng chạy vào xương nên đởm kinh chủ các bệnh về xương. Vùng kinh mạch đi qua đầu, hàm, khóe mắt đều sưng đau, phát  sinh bệnh bưới cổ,sốt rét, ngực sườn, đùi đầu gối, cẳng chân mát cá ngoài đều đaungón chaanuts, ngón thứ hai kém linh hoạt đau nửa đầu.Công năng của mật là dự trữ và vận chuyển dịch maatjtham gia vào quá trình tiêu hóa  Mật bám vào gan nên chứng bệnh ở mật giông, bệnh ở gan

Quá trình sơ tiết bị xáo trộn, do vậy xuất hiên chứng vàng da, đau thần kinh liên sườn nặng, ngực bí nôn, ợ đắng ợ chua, nôn ra nước vàng, miệng khô đắng  mắt vàng nước đái vàng rêu lưỡi vàng

12 Túc quyết âm can kinh gồm 14 huyệt

Bên trong thuộc gan bên ngoài nối tiếp mạch túc thiếu dưng đởm bát nguồn từ huyệt đại  đôn góc ngoài móng ngón chân cái đi lên bàn chân lên cẳng chân gặp nhau với tỳ kinh, thận kinh ở hueetj tam âm giaotheo mép đùi trong  hai bên gặp nhau ở huyệt khúc côt vòng quanh âm khí xoắn xuýt với nhâm mạch lên bụng vào gan đi lên đỉnh đầu nhánh chính nối tiếp mạch thủ thái âm phế kinh cứ như vậy  chúng chu chuyển suốt ngày đêm như vòng ngọc khoonh đầu mối ( chu nhi phục thỉ như hoàn vô đoan ) xem phần tạng can ở y lý y học cổ truyền

Xem video vòng tuần hoàn 12 chính kinh ở phần  FACE cuối trang, hãy nháy chuột vào hình thu nhỏ xem hướng dẫn trên youtube kênh @inhangvanhoalien