Y lý trong y học cổ truyền

Y lý  Y học Cổ truyền

( Ứng dụng Lục tự khí )

Quan điểm Thiên –Nhân hợp nhất (trời -Người) ngũ hành ứng ngũ tạng. lục phủ ứng lục khí

1, Tạng Can :

Can thuộc hành mộc  ứng tiết mùa xuân  màu thuộc màu xanh vị thuộc vị chua, âm ứng âm giốc, khai khiếu ở mắt, chủ sơ tiết,chủ gân,tàng trữ huyết, quan hệ biểu lý ( trong ngoài ) với đởm ( mật )

A, Chủ sơ tiết :

Sơ tiết là tác dụng điều tiết đối với hoạt động thần trí và công năng của một số nội tạng. Đặc tính của can là ưa thích suôn sẻ không thích bị ức chế nếu thần kinh bị ức chế lâu dài sẽ làm công năng sơ tiết của can khí thất thường , gây ra khí huyết trì trệ , quánh kết trật tự thăng giáng bị xáo trộn,làm ngực đầy chướng ,trong người buồn bực hay nghĩ đa nghi, có cảm giác nghèn nghẹn ở cổ họng ,thậm chí u buồn đến phát khóc . Nếu tinh thần sảng khoái , công năng sơ tiết chính thường cơ chế điều tiết khí suôn sẻ , thăng giáng có trật tự thì khí huyết điều hòa cổ nhân đúc kết chỉ đạo y lý như sau : Can ưa điều hòa kỵ ưu phiền

B, về phương diện khí huyết :

Công năng sơ tiết của can có ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều tiết khí huyết , khí với huyết như hình với bóng khí lưu thông thì huyết lưu thông khí ách tắc thì huyết ách tắc. Nếu can khí ách tắc mất khả năng hành huyết , dẫn đến huyết khó lưu thông, do đó công năng tàng huyết bị ảnh hưởng làm ngực mạng sườn nhói đau ,phụ nữ tắc kinh, sinh chứng u. Nếu cáu giận quá mức ,can khí ngược dòng làm mặt đỏ gay gân nổi phồng , phù đau xuất huyết

C, Về công năng tiêu hóa:

Công năng sơ tiết của can không những có tác dụng điều tiết khí thông thoát mà còn hỗ trợ sự thăng giáng của tỳ khí, vị khí  ,thúc đẩy việc tiết ra mật  điều đó lý giải vì sao người bị can khí quánh kết thường hay bi tháo dạ ,can khí không thông thoát làm cho vị khí không giáng hơi ấm xuống, tỳ khí không thăng nên được nên sinh ra ỉa chảy

D, Can chủ gân :

Cân và gân nối liền các khớp , các tổ chức vận động , can huyết nuôi dưỡng cân và gân , nếu can huyết thiếu hụt không đủ nuôi dưỡng cân và gân thì chân tay tê dại hoặc run lẩy bẩy,co duỗi khó khăn. Can nhiệt tiết ra làm cho miệng đắng , cân và gân khô , co giật rồi bị teo gân. Nếu can khí tích tụ lại bên trong , làm tổn hại đến gân và huyết biểu hiện thường thất tứ chi co rút,co giật toàn thân hàm răng cắn chặt . Móng tay , móng chân là phần dư của gân , quan sát móng tay, chân có thể biết được thịnh suy của can huyết , nếu can huyết đầy đủ thì các mống rắn chắc cân và gân cường , can huyết thiếu hụt thì các móng mỏng giòn dễ gãy thậm chí biến dạng

E, Can tàng huyết :

Căn cứ vào lý luận trong y học cổ truyền mà nói can tàng huyết, tỳ thống nhiếp huyết , tâm hành huyết . Nói rõ hơn buồng gan có công năng điều tiết lưu lượng huyết trong cơ thể , lượng máu trong cơ thể thay đổi theo tình trạng sinh lý khi ngủ ,lượng máu dôi ra được dự trữ trong gan , khi vận động làm việc  lượng máu dự trữ trong gan trào ra cung cấp cho nhu cầu của cơ thể . nếu công năng tàng huyết của can thất thường sẽ ảnh hưởng đến sự vận động của cơ thể như vậy sẽ xuất hiện những bệnh về huyết dịch , can huyết thiếu hụt thì hai mắt khô, hoa mắt,co duỗi khó khăn , phụ nữ kinh nguyệt quá ít dẫn tới tắt kinh

E, Can khai khiếu ở mắt :

Tinh khí của ngũ  tạng, lục phủ dồn lên mắt , trong ngũ tạng can chủ huyết , mắt nhờ tiếp nhận huyết mà nhìn được . sách Hoàng đế nội kinh tố vấn viết ( Mục đắc huyết năng như thị ), can huyết điều hòa thì mắt phân biệt được ngũ sắc , công năng của mắt là để nhìn , những đôi mắt có thị lực tốt là nhờ được can huyết nuôi dưỡng tốt . Muốn biết tình trạng thịnh suy của can huyết hãy quan sát bệnh biến của đôi mắt , can huyết thiếu hụt hai mắt khô, quáng gà , can phong nhiệt hai mắt đỏ , sưng húp , can dương bốc quá váng đầu , hoa mắt , can phong đảo lộn ở trong thì lác mắt , hoặc tròng đen trợn ngược lên.

 Nếu can khí có vấn đề thì dùng ( Hư ) tự công trong lục tự khí điều chỉnh ( khi hở ra phát âm Xúy ) thở ra bằng miệng  hít vào bằng mũi các tự công sau cũng vậy )

2, Tạng Tâm :

 Thuộc hành hỏa , ứng tiết mùa hạ , sắc là màu đỏ, âm là âm chủy, vị ứng vị đắng , chủ huyết mạch, chủ thần trí , khai khiếu ở lưỡi, có quan hệ biểu lý với tiểu trường (ruột non)

  A, Chủ huyết mạch :

Tâm có công năng đưa đẩy máu tuần hoàn trong mạch để nuôi dưỡng toàn thân . Máu vận hành được trong mạch là nhờ Tâm đóng vai trò chủ đạo, Tâm khí có hoạt động thì máu mới có thể lưu thông , vì lẽ đó sách Tố Vấn viết : ( Tâm chủ huyết mạch của toàn thân ). Tâm khí có thịnh vượng thì máu vận hành trong mạch theo phương hướng nhất định , cung cấp dinh dưỡng cho mỗi tế bào toàn thân, vì Tâm khí chủ huyết mạch nên Tâm khí thịnh vượng  thì mạch tràn đầy hòa hoãn sung sức  sắc mặt hồng nhuận ,Tâm khí không đủ mạch rỗng yếu, nhịp tim không đều, sắc mặt xanh sao

B, Tâm chủ thần trí :

Toàn bộ quá trình tiếp nhận sự việc ngoại cảnh rồi sản sinh ra hoạt động tư duy là do Tâm đảm nhận . Nói Tâm chủ huyết mạch, chủ thần trí chỉ là một vì khí và huyết sung túc thì tinh thần nhanh nhạy tỉnh táo  minh mẫn, còn Tâm huyết thiếu hụt sinh ra loạn nhịp tim, mất ngủ hay quên, nằm mơ , sợ hãi . Nếu huyết nhiệt nhiễu tâm sẽ xuất hiện tình trạng nói mê, mê man , bất tỉnh nhân sự

C, Tâm khai khiếu ở lưỡi :

Mạch lạc của tâm vươn lên lưỡi , do vậy khí huyết của Tâm dễ biểu hiện ra lưỡi , duy trì công năng của lưỡi ,

Ví dụ : Tâm huyết thiếu hụt màu lưỡi nhợt nhạt , Tâm hỏa thượng viêm, tâm âm hư thì màu lưỡi đỏ tươi ,trầm trọng hơn thì có hiện tượng loét , Tâm khí ách tắc lưỡi chuyển sang màu tím , hoặc xuất hiện nốt tím lốm đốm. Khi  nhiệt nhiễu Tâm hoặc đờm lấp khiếu tâm thì lưỡi cứng hoặc cấm khẩu. Do đó có cách nói : Tâm khai khiếu ở lưỡi

Khi Tâm khí có vấn đề dùng ( Ha ) tự công trong lục tự khí điều chỉnh (thở ra phát âm Khơ )

3, Tạng Tỳ

Thuộc Hành Thổ , Ứng Với 18 Ngày Của 4 Mùa Là Trung Cung Riêng biệt ,màu ứng màu vàng , âm ứng âm cung , chủ cơ nhục thống lĩnh huyết, khai khiếu ở miệng ,hiện đẹp trên môi có quan hệ biểu lý với vị, ( dạ dày,)

A, Tỳ vận chuyển thủy thấp :

Tỳ là vốn liếng của cha mẹ sinh ra , Tỳ chủ việc vận chuyển chất tinh vi của thủy cốc , vận hóa thủy thấp . Thức ăn, đồ uống sau khi qua miệng vào dạ dày được ủ chín nhừ , những chất tinh vi của thủy cốc được Tỳ hấp thụ đưa lên cung cấp cho phế ( Tỳ thổ sinh Phế kim ) rồi từ Phế rót vào tâm mạch , rồi chuyển đến nuôi dưỡng các tổ chức khí quan , tế bào của toàn thân như : lục phủ , ngũ tạng , xương, cốt ,gân cơ, da ,lông ...v...v...

Nếu tỳ khí không đủ mạnh thì khó có thể hấp thu được chất dinh dưỡng vì vậy dễ xuất hiện các triệu chứng  như :Ngực chướng, ỉa chảy gày còm mệt mỏi,suy dinh dưỡng , vì Tỳ có tác dụng vận hóa thủy thấp nên có thể trao đổi thủy dịch theo nhu cầu của các mô và bồi bổ cho chúng , đồng thời không cho thủy thấp ngưng  đọng dưới da gây ra bệnh phù, không cho thủy thấp dồn ứ trong đường ruột gây bệnh ỉa chảy .

Không đói mà cố ăn , không khát mà cố uống sẽ làm mạch Tỳ khí  ứ tắc , dạ dày đầy chướng , ăn thức ăn ôi thiu , làm hôn mê sẽ thần trí ( Bệnh theo miệng mà vào )

B, Tỳ thống nhiếp huyết  :      

 

Tỳ có công năng quản lý huyết dịch và cất giữ huyết dịch làm cho huyết dịch không bị thất thoát ra ngoài. Vì sao Tỳ lại thống nhiếp huyết ? Vì Tỳ là nguồn sinh ra của huyết và mất đi của huyết  khi Tỳ khí thịnh vượng đưa lên bình thường , thì huyết mạch không bị thất thoát ra ngoài , khi tỳ khí suy vi mất khả năng thống nhiếp huyết thì huyết bị thất thoát ra ngoài như : đi ngoài ra máu , chảy máu cam , Phụ nữ băng huyết..v..v..

C, Tỳ chủ cơ bắp và tứ chi :

Hoạt động của cơ bắp mạnh hay yếu đều liên quan đến tỳ khi, vì chủ vận hóa ,vận chuyển chất tinh vi của thủy cốc, đem nuôi cơ bắp và tứ chi Tỳ khí mạnh cơ bắp căng đầy , tứ chi mạnh mẽ linh hoạt , tỳ khí yếu thiếu dinh dưỡng cơ báp tong teo, gày còm, mệt mỏi đuối sức do đó có câu tỳ chủ cơ nhục và tứ chi, những ai suy dinh dưỡng chú trọng bổ tỳ

D, Khai khiếu ở miệng hiện đẹp trên môi:

Khẩu vị ăn uống của cơ thể liên quan đến công năng của tỳ , tỳ khí vượng kích thích nhu cầu ăn, tỳ khí yếu làm người ta biếng ăn, ăn không ngon miệng. Nếu tà thấp quanh quẩn trong tỳ  thì làm người ta chán ngấy không muốn ăn. Miệng là cửa ngõ thông với tỳ , nên môi phản ánh sự thịnh suy của tỳ. nếu tỳ khí mạnh chất dinh dưỡng đầy đủ thì môi hồng nhuận tươi tắn, nếu tà thấp quanh quẩn trong tỳ thì môi thâm và khô, do vậy có câu : Tỳ khai khiếu ở miệng hiện đẹp trên môi

Tỳ khí có vấn đề thì dùng Hô tự công để điều chỉnh (  khi thở ra phát hu )

4, Tạng Phế :

Phế thuộc hành kim ứng tiết mùa thu, sắc là màu trắng , âm ứng âm thương, Khai khiếu ở mũi, có quan hệ với đại trường ( ruột già )

A, Phế chủ khí : Phổi là cái nắp tuyệt hảo của ngũ tạng , điều khiển việc hô hấp là môi trường trao đổi khí, giữa bên trong cơ thể với bên ngoài qua hô hấp con người thải khí vẩn đục trong cơ thể ra, hít khí trong lành của thiên nhiên vào để htay cũ nạp mới khi đó mới giúp các mô thực hiện chức năng của chúng. Phế chủ khí công năng ấy được duy trì  thì đường đi của khí thông thoát, nhịp thở đều đặn nếu phế khí không đủ nhịp thở yếu, lời nói thều thào, người mỏi đuối sức sắc mặt tím tái

B, Phế chủ tuyên phát :

Trong cơ thể nhờ có phế khí đưa đẩy , làm khí, huyết, tân dịch lan tỏa khắp các bộ phận của cơ thể. Trong thì tới lục phủ ngũ tạng ngoài thì tới da, lông, tóc t, không bỏ sót nơi nào dù tinh vi đến đâu cũng có dòng khí lưu thông, nếu phế khí tắc nghẽn không truyền đi được, sẽ sinh ra nhieeudf đờm, khò khè trong cổ, tắc mũi, ho, tức ngực

C, Phế chủ túc giáng :

Phế khí thanh thoát xuôi xuống là thuận nếu phế không xuôi xuống mà ngược trở lên sẽ xuất hiện tình trạng thở gấp, thở hổn hển, tức ngực ho. Sự túc giáng của phế là hai mặt đối lập nhưng lại thống nhất, có tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau, nếu bị táo nhiệt xâm nhập phế không túc  giáng  được cũng có thể bị ho hen, nếu bị chứng thấp cản trở ở trong phế không túc giáng được cũng có thể bị ho tức ngực , có đờm khò khè trong cổ

D, Phế có khả năng thông điều thủy đạo :

Cổ nhân thường nói phế là thượng nguồn của nước, vì lẽ trong cơ thể hấp thu chất tinh vi của thủy cốc, thông qua sự túc giáng của phế rồi bồi bổ cho toàn thân, lượng thủy dịch sau khi trao đổi chất một phần nhỏ dư thừa hóa thành mồ hôi thải ra ngoài, phần lớn còn lại nhờ quá trình túc giáng của phế chảy xuống thận, sau khi thận hóa khí xong, chất dư thừa chảy vào bang quang hóa thành nước tiểu bài tiết ra ngoài  

E, Phế chủ bì mao :

Bì mao gồm : lông, tóc, tuyến mồ hôi, chúng là phần biểu của cơ thể có nhiệm vụ chống ngoại tà xâm nhập. nếu phế khí hư nược không có khả năng tuyên phát da, lông mất đi nguồn dinh dưỡng , làm lông, tóc khô cứng mất khả năng phòng chống ngoại tà xâm nhập khiến cơ thể dễ mắc cảm cúm

F, Phế khai khiếu ở mũi :

Mũi là cửa ngõ thông khí của phế, cho nên nói phế khai khiếu ở mũi , công năng thông khí và khứu giác của mũi phải nhờ cậy vào phế . Khi công năng của phế bình thường thì thì hô hấp thông thoát, khứu giác nhạy bén, nếu ngoại tà xâm nhập vào phổi trước tiên phải đi qua mũi. Khi phong hàn xâm nhập vòa trong phế khí không tuyên phát được thì bị ngạt mũi chảy nước mũi, khứu giác kém. nếu phế khí bị nhiệt thì hai cánh mũi phập phồng

Phế khi hư nhược dùng hu  tự công trong lục tự khí để điều chỉnh (khi thở ra phát âm sự )

5, Tạng thận :

Trong ngũ hành Tạng thận thuôc hành thủy, ứng tiết mùa đông sắc ứng màu đen, vị ứng vị mặn, âm ứng âm vũ, là cơ quan tang trữ tinh , khai khiếu ở tai và cơ quan sinh dục, có quan hệ biểu lý với bàng quang

A, Tàng trữ tinh : ttinh có hai loại tinh thiên tiên và tinh hậu thiên

Tinh thiên tiên là thứ tinh đã có sẵn trong thận của cả nam và nữ là thứ vật chất cơ bản cho quá trình sinh dục và sinh sản của cả nam vf nữ (tinh trùng và trứng ) con người sinh ra đã sẵn có tinh này nên gọi là thiên tiên

Tinh hậu thiên : là thứ tinh lấy từ đồ ăn thức uống hàng ngày đrre duy trì sự sống của cơ thể ,của lục phủ, ngũ tạng có tinh hậu thiên nuôi dưỡng thì tinh thiên tiên mới phát huy được vai trò của mình. Tinh có thể hóa khí lượng khí hóa được từ tinh chính là thận khí ( luyện khí công là mục đích luyện tinh hóa khí - luyện khí hóa thần - luyện thần hoàn hư, cơ thể con người là một đồng hồ sinh học hoàn chỉnh khi thần hoàn hư dừng suy nghĩ tự điều chỉnh cơ thể từ đó mà vô bệnh )

Nếu thận tinh sung túc thạn khí thịnh vượng thì tinh lực dồi dào  Nếu thận tinh suy nhược, thận khí thiếu hụt thì tinh thần ủy mị Tinh của thận đống vai trò trong cả quá trình phát triển sinh trưởng,và sinh sản của cả cuộc đời con người

B, Thận chủ thủy: Khi thức ăn, đồ uống  vào dạ dày được ủ chin nhừ thì những chất tinh vi của thủy cốc được Tỳ hấp thụ rồi dâng lên phế , do phế có chức năng túc giáng khiến nước trong lành chảy xuôi về thận sau khi thận hóa khí xong lượng nước lại được dâng lên phổi chất dư thừa chảy vào bang quang thành nước tiểu bài tiết ra ngoài, vòng tuần hoàn này duy trì lượng nước trong cơ thể. Khi bình thường thận âm thận dương ước chế lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhauddeer duy trì lượng nước trong cơ thể thì việc  thăng thanh giáng đục nhịp nhàng đều đặn, việc bài tiết nước tiểu bình thường. Nếu thận dương không đủ sức hóa khí thì lượng nước tiểu ít sinh ra phù thũng, nếu thận âm hư dương cường khí hóa quá mạnh lượng nước tiểu nhiều quá sinh ra đái tháo hoặc chứng niệu độc

C, Thận chủ việc nạp khí : Phế tuy chủ việc hô hấp nhưng lượng khí hít vào phải được nạp xuống thận, cho nên nói phế chủ việc Hô ( thở ra ) thận chủ hạp ( hít vào ) công năng của thận gữi vai trò cực kỳ trong hô hấp. chỉ khi thận khí rồi dào thì việc nạp khí mời phát huy tác dụng bình thường đường đi của khí mới thông suốt ,việc hô hấp mới diễn ra tự nhiên thoải mái, nếu thận khí hư nhược lượng khí hít vào không nạp xuống thận sẽ diễn ra tình trạng thở ra dễ hít vào khó đây chin là căn bệnh hen

D, Thận chủ cốt sinh tủy thông não : Răng là phần dư của cốt thận khí đầy đủ thì rang chắc khỏe thận khí suy rang lung lay rồi rụng các xương cốt có rắn chắc hay không là do thận quyết định, thận hợp với xương thể hiện ở tóc nên tóc phản ánh sức sống của thận khi tuổi thanh xuân thận tinh đầy ắp long tóc óng mượt tuổi già thận tinh suy vi long tóc cằn cỗi, rồi ngả sang bạc trắng tóc rụng , nên nói cái đẹp của thận thể hiện ở tóc

Thận tang trữ tinh –tinh sinh ra tủy - tủy nuôi dưỡng cốt tủy nằm trong cốt, thận khí rồi dào sẽ là nguồn sinh hóa cốt tủy  , tủy đầy sẽ làm cốt khỏe rắn chắc. Não là bể của tủy , bể của tủy đầy thì đầu óc minh mẫn, bể của tủy vơi thì đầu óc choáng váng, tai ù, uer oải, nằm bẹp 

E, Khai khiếu ở tai và cơ quan sinh dục :: thận chủ việc tang trữ tinh, Thính giác bắt nguồn từ thận, Thận khí thông ra tai, thận khí điều hòa thì tai nghe rõ ngũ âm thận khí koong đủ thính giác giảm thậm chí điếc

Nhị âm : là tiền âm và hậu âm , Tiền âm có nhiệm vụ bài tiết nước thải và sinh sản, hậu âm có nhiệm vụ bài tiết phân. Có sự khí hóa của thận âm thận dương thì việc bì tiết mới thuận lợi, thận âm thiếu hụt phân khô, thận dươn thiếu hụt liệt dương, ỉa lỏng, đái dắt, điều đó chứng tỏ đại tiểu tiện liên quan đến thận

muốn công năng của thận khỏe hãy luyện suy tự công ( khi thở ra phát âm xuâyt )  

6, Tam tiêu : Trong y lý học cổ truyền tam tiêu được ví như cái đẫy dựng mọi đồ vật và được gọi là phủ cô đơn đóng vai trò tướng hỏa để  cùng vai trò quân hỏa  để thông thanh khí có quan hệ biểu lý với tâm bào , Tâm bào chủ việc bảo vệ bên ngoài cho timconf tam tiêu là nguồn lọi của phủ , tạng, công năng của cả hai tương đồng với nhau và quan hệ mật thiết với nhau , nên tam tiêu được ví là cha của dương khí , còn bào lạc ví như mẹ của âm huyết . Xưa nay phủ cô đơn đóng vai trò trong việc lưu thông khí huyết. Ngũ cốc vào miệng biến ra ngũ vị thành tân dịch làm ấm các phủ, tạng tam tiêu vốn chủ khí nó thường hội nguyên khí (nguyên khí nằm ở huyệt quan nguyên ) chân khí để nuôi da thịt. tất cả quá trình biến những chất tinh vi của thủy, cốc đều do tam tiêu quy định Tam tiêu được chia làm 3 phần :

  • Thượng tiêu : Công năng của thượng tiêu chính là công năng của Tâm ,Phế, xuất và nạp tuyên phát những khí u uất trong lồng ngực, vận chuyển tông khí để cung cấp cho mỗi cơ năng của tổ chức khí quan toàn thân Tác dụng ấy ví như mây mù
  • Trung tiêu : công năng của trung tiêu chính là vận chuyển thức ăn rồi chưng hóa thành tân dịch, hóa sinh các vật chất thành dinh khí – Dinh khí cấu tạo thành tân dịch ( chất Dinh dưỡng thông qua chuyển hóa của phế mạch.) Tác dụng của trung tiêu là biến hóa đồ ăn, thức uống do đó có câu trung tiêu : Âu ủ
  • Hạ tiêu : công năng của hạ tiêu là hân thanh, đục những vật chất dư thừa sau khi cơ thể đã tiêu hóa chúng rồi thông qua đường đai, tiểu tiện bài tiết ra ngoài, vai trò của nó giống như ống dẫn thông thoát các loại vật chất nên nói hạ tiêu như mương máng

luyện Hi tự công để điều chỉnh tam tiêu (khi thở ra phát âm xi )

Muốn Ngũ tạng mạnh hãy luyện lục tự khí

Xem vidio hứng dẫn luyện khí công trên yuotube kênh @inhangvanhoalien