Bat mạch kỳ kinh

                                                Kỳ kinh bát mạch

Trên cơ thể ngoài 12 chính kinh còn có kỳ kinh bát mạch - kỳ kinh bát mạch không phụ huộc vào 12 chính kinh không có quan hệ biểu lý nhưng có tác dụng hỗ trợ cho chính kinh nó giống như : đầm, ao, hồ để điều tiết nước khi hạn, hoặc lụt

Kỳ kinh bát mạch có đường đi riêng nó lên thẳng, xuống thẳng, ở phần nổi của cơ thể là đốc mạch, chặt chẽ là nhâm mạch bền chắc, là xung mạch

1, Mạch đốc gồm 28 huyệt : Đốc có nghĩa là giám sát và đôn đốc mạch đốc khởi nguồn từ huyệt trường  cuối xương cùng cụt đi dọc sống lưng dọc giữa đầu giao nhau với các dương kinh ở huyệt Đại chùy, nó giám sát đôn đốc các dương kinh nên gọi là đốc mạch. Đốc mạch bắt nguồn từ thận xuống bào thất ( nam là túi tinh nữ là buồng trứng). Nhâm mạch, thuận theo đó huyết ở tâm vị chảy vào đó hội tụ ở bào trung. Đây là nơi nhâm đốc giao hội, thủy hỏa tương tế. Đốc mạch chủ phần dương nên chủ việc sinh ra thận khí , sinh khí ở thiên dương khi hít vào mũi sẽ lên não môn xuống phế quản theo sống lưng xuống thận, rồi từ thận vào bào trung khi hít vào bào trung đầy, vì khi hít vào khí qua mũi, lên lưng, xuống thận rồi đi tiếp vào cơ thể khi thở ra khí từ

cơ hoành đi ra vì vậy khi bịt mũi há mồm, cũng có thể đưa khí đi ra nhưng không đưa khí vào được

các chứng bệnh của đốc mạch ; xương sống cứng đơ, co rút nếu hàn thấp ủ lâu thì phát sốt sau đó rét run, làm khí ở hai mạch nhâm, xung từ dưới thốc lên ngực sinh ra đau tim, không dái ỉa được cổ nhân gọi là chứng xung  sán

2, Mạch nhâm : Đường tuần hành của mạch này như sau : khởi nguồn từ bào cung ra huyệt hội âm giữa tiền âm hậu âm đi dọc theo đường trung chính giữa bụng lên ngực cổ kết thúc ở huyệt thừa tương dưới môi giao nhau 3 mạch kinh âm ở huyệt trung cực quan nguyên giao mạch xung ở huyệt âm giao dưới rốn, gặp mạch âm ở huyệt liêm  tuyền nhâm có nghĩa là nhiệm chủ việc thai nghén ở phụ nữ. Khi nhâm mạch mắc bệnh ở nam giới mắc 7 chứng sán : Chứng hàn sán bụng đau chân tay lạnh chứng thủy sán âm nang sưng to ra mồ hôi âm nang, làm ngứa ngáy,bụng dưới sôi ùng ục, - chứng cân sán các kinh âm sưng, gân co rút, hoặc rã rời không đàn hồi được - chứng huyết sán đau nhói tim như bị kim đâm, không chạm vào được - chứng khí sán âm nang thận sưng hễ cáu là phát bệnh ngay, -chứng hồ sán tinh hoàn lúc lên lúc xuống - chứng đồi sán thận nang sưng to ở nữ giới sinh dục sa xuống chứng bạch đới hoặc tích tụ thành khối u 

3, Mạch xung

bắt nguồn từ bào cung cùng nhâm đốc đi lên nhưng rẽ làm 3 ngả gặp túc dương minh vị ở huyệt khí xung đi lên cùng túc thiếu âm thận kinh cách đường trung chính giữa bụng 0,5 thốn. mạch xung không có huyệt riêng huyệt chủ yếu là của túc thiếu ân thận kinh. Xung mạch là biển của 12 kinh là cái gốc của sự hô hấp. việc thở ra của con người từ khí xung đi từ khí xung vòng qua cơ hoành vòng quanh ngực rồi vào phổi, ra họng cho nên xung mạch được coi là khí nhai ( đường phố của khí )

Âm, dương của con người đều bắt nguồn từ dưới đi lên do đó trong sách hoàng đế nội kinh tố vấn đặt cho nó là quảng minh sau lại đổi tên là thái xung – Thái xung thuộc về thiếu âm về quyết âm. Vùng khí hải cùng thái xung quện tinh khí đi lên tắm tưới cho âm dương đó chính là nguyên khí, cùng một nguồn nhưng chia làm ba ngả, nhánh dương đi phía sau dọc giữa cột sống nó chủ đạo các dương kinh cho nên có tên là đốc mạch , nhánh âm từ tiền âm đi lên phía trước dọc giữa bụng thống nhiếp các âm kinh cho lên gọi là nhâm mạch nhánh giữa bắt đầu từ huyệt huyết hải ( biển khí) cuốn tinh khí đi lên ngực đó chính là tông khí có tên chung là thái xung – thái xung chủ việc thông khí toàn thân bắt nguồn từ bào cung nên con gái 2 x 7 = 14 thiên quý đến con trai thời 2 x 8 = 16 có tinh, mạch thái xung khí huyết rồi dào thì kinh nguyệt đúng kỳ, Nó đạo đẫn khí tiên thiên đi lên quyện khí hậu thiên ở dạ dày đi xuống thận, đạo dẫn khí lên đạo dẫn huyết xuống làm thông suốt thận khí, làm rạng rỡ dương minh đó chính là vai trò điều khiển của xung mạch, khi xung mạch có bệnh khí đẩy ngược lên từ đó sinh ra chứng bệnh hen nếu khí huyết bất hòa thì bụng đau.  ở phụ nữ 7 x 7 = 49 tuổi xung mạch cạn kiệt thiên quý hết mà không có con

4, Mạch đới

Bắt nguồn từ huyệt chương môn thuộc túc quyết âm can kinh quấn một vòng sát sao như một cái đai quanh eo do đó có tên là đới mạch

-Tác dụng của đới mạch là bó các kinh lại, vì đới mạch quán xuyến thận nên thuộc về thận đối với nữ giới nó chủ đạo bào cung cho nên chủ quản bệnh bạch đới ở nữ, di tinh ở nam. Đới mạch bị bệnh eo chảy xuống như đang ngồi trong nước gân cơ lỏng lẻo , mất khả năng thâu bó các kinh sẽ làm chân mềm yếu bước đi không nổi , teo chân

5, Dương duy mạch

 Duy có nghĩa là duy trì gắn bó các dương kinh của toàn thân. Mạch dương duy khởi đầu từ huyệt kim môn của túc thái dương bàng quang kinh qua huyệt dương giao chạy lên cạnh nách ở huyệt nhật nguyệt của túc thiếu dương đởm kinh lên huyệt phong trì kết thúc ở huyệt bản thần trước trán

Biểu hiện bệnh lý : khi ngoại tà xâm nhập kinh này thì bệnh nhân sốt nóng sốt rét

6, Âm duy mạch

Âm duy mạch giao hội với các âm kinh bắt đầu từ huyệt trúc tân thuộc túc thiếu âm thận kinh đi lên bụng dưới nhập vào huyệt phủ xá thuộc túc thái âm tỳ kinh qua huyệt kỳ môn thuộc túc quyết âm can kinh vào cơ hoành lên cổ nhập vào huyệt liêm tuyền của nhâm mạch cùng nhâm mạch thẳng tiến

biểu hiện bệnh lý : Đau tim đau dưới sườn đau dạ dày, đau vùng thắt lưng..v..v….Âm chủ phần lý ( bên trong )

7, Dương khiêu mạch :

Khiêu là giày dân bằng cỏ, giày phải đi dưới bàn chân, khiêu là khâu quan trọng để cất bước đi dương khiêu bắt đầu từ huyệt thân mạch phía dưới mắt cá ngoài bàn chân, thuộc túc thái dương bàng quang kinh vòng qua huyệt bộc tham đến phu dương qua kiên liêu lên sườn lên nhu du của tiêu trường ở sau nách đi men mép ngoài vai lên cự cốt, kiên ngưng của kinh đại trường đi dọc cổ lên vành môi qua huyệt địa thương  cư lieu lên thừa khấp của vị kinh đến huyệt tình minh túc thái dương bàng quang như vậy dương khiêu trở về dương không trút  về âm

Tác dụng của dương khiêu mạch là chủ quản các dương kinh ở hai bên phải trái của cơ thể vì đi qua 5 mạch thủ, túc thái dương thủ thiếu dương không hội đốc mạch phân bố riêng rẽ hai bên cạnh thân, lại không thông mạch khí với nhau nên hai mạch tả hữu riêng rẽ chủ trì dương khí ở mỗi bên thân thể

Hiện tượng bệnh lý : khi dương khiêu mắc bệnh dương khí hơi mạnh âm khí không đủ  bệnh nhân phát cuồng đi lung tung, mắt không nhắm lại được hoặc gân mạch ứng với dương khiêu bị co rú,t âm chùng trỏ lại có thể làm bàn chân lật ra ngoài co giật rất dễ nhận thấy hiện tượng co nhanh ở phía ngoài co chậm ở mắt cá trong. Dương khiêu có quan hệ mật thiết với thái dương bàng quang nên khi dương khiêu bị bệnh eo lưng, cơ thể cứng đơ  

8, Âm khiêu mạch

Mạch này bắt đầu từ huyệt chiếu hải dưới mắt cá trong qua huyệt giao tín lên âm hộ lên bụng lên ngực vào khuyết bồn lên cổ nhập vào huyệt tình minh thuộc túc thái dương bàng quang kinh

- Hiện tượng bệnh lý khi âm khiêu có bệnh âm khí mạnh, dương khí thiếu sinh ra chứng âm quyết hoặc không mở mắt được , mệt mỏi,  vì hai khiêu đều tụ hội ở mắt dương nhập vào âm, âm từ dương đi ra giao nhau ở góc mắt trong . do vậy dương khí thịnh thì mắt trợn trừng, âm khí thịnh thì không mở được mắt . Âm khí cấp dương khí hoãn thì bàn chân bị lật vào trong, nếu tà khí vào dương khiêu thì bị bệnh đau mắt đỏ lan từ góc mắt trong ra khắp mắt hãy giữ lấy âm khiêu. đồng thời âm khiêu liên quan mật thiết với thận kinh nên có các triệu chứng như Đau ở vùng eo, hông, đau lan sang bên trong âm hộ, mạch âm khiêu đi dọc cổ họng nên bệnh cổ họng tìm huyệt ở âm khiêu

Ngoài 12 chính kinh + kỳ kinh bát mạch còn có kinh biệt kinh cân và vô số lạc mạch đan xen vào mhau như một mạng lưới để tắm tưới cho mỗi tế bào toàn thânkhi đó thật khó xác định vị trí của chúng

Kinh biệt : là biệt chi của chính kinh nằm ở trên khủy tay, từ kinh biệt đi ra khí đi sâu vào nội tạng tiếp đó đi lên đỉnh đầu đầu, kinh biệt của dương kinh trở về với âm kinh, kinh biệt của âm kinh trở về với dương kinh trứ không trở về âm. Đường tuần hành của nó khác với 12 chính kinh nhưng cũng ra vào ly hợp để tưới nhuần cho tạng phủ, nó có thể bổ sung cho chỗ thiếu của chính kinh, cổ nhân hiểu sâu xa, nó khác với lạc mạch nên đặt tên là kinh biệt  

Kinh cân : Kinh cân chắp liền bách hài (cả trăm khúc xương) bắt đàu từ đầu ngón của tứ chi đi lên sống lưng cuối cùng lên đầu và các bộ phận khác của cơ thể. kinh cân chạy ở phần biểu ( ngoài ) của cơ thể không đi sâu vào nội tạng, các vùng của nó điều liên quan đến chính kinh nên có tên gọi là kinh cân

Lạc mạch : Lạc mạch là những nhánh ngang của kinh mạch ngoài việc tưới nhuần cho tứ chi nuôi dững toàn thân nó còn giữ vai trò liên lạc với chính kinh có tác dụng phối ngẫu biểu, lý. Lạc mạch từ các huyệt của chính kinh tỏa ra chia ra nhiều nhánh nhỏ ly ty tản khắp kinh khí khi ấy thật khó xác định vị trí của chúng nhưng tựu chung chúng đều vươn tới các du huyệt

Sự tuần hành và tác dụng của kinh mạch đã được mô tả ở trên Đại khí của khí công đi theo hướng nhất định trên đường kinh mạch Luyên khí công cần vận dụng tinh tế  Kiên trì luyện tập như nước chảy mãi sẽ thành dòng , Lũ lớn sẽ quét sạch mọi vật cản trên dòng chảy, kết quả sẽ đến tự nhiên không nên nôn nóng ( tốc dục bất đạt ) nóng vội sẽ hỏng việc

Xem vidio hướng dẫn luyện khí công trên yuotube kênh @inhangvanhoalien